Tạo nền tảng để dữ liệu đo lường trở thành hạ tầng số quốc gia
Trước yêu cầu chuyển đổi số và sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, việc sửa đổi Luật Đo lường được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý để hiện đại hóa hệ thống đo lường, nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng.
(CL&CS)- Trước yêu cầu chuyển đổi số và sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, việc sửa đổi Luật Đo lường được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý để hiện đại hóa hệ thống đo lường, nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng.
Đo lường hiện diện trong hầu hết hoạt động của đời sống, từ mua bán xăng dầu, thực phẩm đến điện, nước, y tế. Độ chính xác của phép đo không chỉ bảo đảm sự công bằng trong giao dịch mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất và quyền lợi người tiêu dùng.
Theo Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải, hạ tầng đo lường quốc gia có thể nhìn nhận ở ba tầng gồm hệ thống chuẩn đo lường quốc gia tạo nền tảng về độ chính xác; đo lường trong doanh nghiệp phục vụ kiểm soát sản xuất, chất lượng sản phẩm; và đo lường phục vụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch hằng ngày.

Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải
Mỗi năm, khoảng 10 triệu phương tiện đo được kiểm định. Cả nước hiện có 51 chuẩn đo lường quốc gia, hơn 8.000 chuẩn công tác cùng sự tham gia của hàng nghìn tổ chức và kiểm định viên.
Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ đang đặt ra yêu cầu mới đối với phương thức quản lý đo lường. Sau gần 15 năm thực thi, Luật Đo lường đã tạo khung pháp lý quan trọng, góp phần bảo đảm công bằng trong giao dịch thương mại và bảo vệ người tiêu dùng. Song trước yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Luật hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế.
Theo ông Trần Quý Giầu, Trưởng ban Đo lường, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, những bất cập tập trung vào ba nhóm chính. Trong đó, nổi bật là khoảng trống về chuyển đổi số khi chưa có đầy đủ quy định về nền tảng, cơ sở dữ liệu đo lường thống nhất, liên thông; giá trị pháp lý của kết quả điện tử cũng như yêu cầu về tính chính xác, khả năng truy xuất, an toàn và bảo mật dữ liệu.

Bên cạnh đó, năng lực hệ thống đo lường quốc gia cần tiếp tục được nâng cao, nhất là cơ chế ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực công nghệ mới, kinh tế số, kinh tế xanh và công nghiệp chiến lược. Việc huy động nguồn lực xã hội và triển khai Chương trình bảo đảm đo lường cũng cần được tháo gỡ.
Một vấn đề khác là phân quyền và thủ tục hành chính. Thẩm quyền quản lý phép đo giữa các bộ, ngành chưa thật sự rõ ràng; hoạt động bắt buộc và tự nguyện chưa được phân định đầy đủ. Một số quy định về dấu định lượng còn thiên về tiền kiểm và cần được rà soát để đồng bộ với Luật Thanh tra năm 2025 và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải cho rằng việc sửa Luật Đo lường không chỉ nhằm cập nhật các quy định kỹ thuật, mà còn phải đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, đưa hoạt động đo lường thích ứng với môi trường số, các mô hình sản xuất mới và quá trình phân cấp, cải cách thủ tục hành chính.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải
Việc hoàn thiện pháp luật về đo lường cũng góp phần thể chế hóa các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia.
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường đã được Chính phủ trình Quốc hội và hoàn thành thẩm tra ban đầu, dự kiến được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026.
Nếu được hoàn thiện và triển khai đồng bộ, Luật Đo lường sửa đổi sẽ góp phần đưa hệ thống pháp luật theo kịp yêu cầu công nghệ, đồng thời tạo nền tảng để dữ liệu đo lường trở thành một bộ phận của hạ tầng số quốc gia, qua đó hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.





