43 đề tài nghiên cứu được báo cáo tại Hội nghị Khoa học Kỹ thuật năm 2026
Ngày 24/10/2026, Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn tổ chức Hội nghị Khoa học Kỹ thuật năm 2026 với chủ đề “Lâm sàng xuất sắc – Chăm sóc toàn diện”. Hội nghị giới thiệu 43 đề tài nghiên cứu thuộc nhiều chuyên khoa, tập trung vào cập nhật kỹ thuật điều trị, cải tiến quy trình chăm sóc và ứng dụng bằng chứng khoa học trong thực hành y tế.
Đây là sự kiện khoa học thường niên, tôn vinh những kết quả nghiên cứu khoa học mang lại giá trị cao trong thực hành điều trị. Đồng thời, thể hiện vai trò tiên phong trong đầu tư ứng dụng hệ sinh thái công nghệ y khoa tiên tiến, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), sử dụng công nghệ như một cánh tay hỗ trợ đắc lực trong chẩn đoán và điều trị, chăm sóc toàn diện.
ThS.BS. Nguyễn Ngọc Bảo Long, Giám đốc Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn chia sẻ: “Trong bối cảnh của y học hiện đại, sự kết hợp giữa lâm sàng xuất sắc và chăm sóc toàn diện chính là chìa khóa để kiến tạo nên những giá trị bền vững cho cộng đồng. Đó là sự kết hợp lấy trí tuệ, chuyên môn và công nghệ làm gốc cùng với sự thấu cảm, tận tâm vì sứ mệnh chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân, giúp họ tiếp cận với những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị với chi phí hợp lý, tiết kiệm thời gian và đảm bảo an toàn người bệnh.
Năm 2026, bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn đã gặt hái được nhiều thành tựu trong nâng cao năng lực chuyên môn và tạo môi trường phát triển toàn diện cho đội ngũ nhân sự như Chứng nhận Bạch kim của Hội Đột quỵ thế giới (WSO); giải thưởng Xuất sắc hạng mục Phát triển nhân tài tại Lễ trao giải Quản lý Bệnh viện châu Á. Đây chính là nguồn động lực to lớn để chúng tôi không ngừng vươn xa trên hành trình phụng sự sức khỏe cộng đồng".

Tại hội nghị , 43 đề tài nghiên cứu chuyên sâu được giới thiệu, bao quát nhiều lĩnh vực như tim mạch, tiêu hóa, chấn thương chỉnh hình – cột sống, nội thần kinh – đột quỵ, nội tiết, ung thư, nhi khoa, dược, nha khoa, tai mũi họng và tiết niệu. Chương trình được tổ chức thành bốn phiên: Chuyên gia, Nội khoa, Ngoại khoa và Điều dưỡng.
Trong lĩnh vực ngoại thần kinh cột sống, đề tài của BS.CKI Trần Dạ Vương tập trung vào phẫu thuật ít xâm lấn trong điều trị thoái hóa cột sống. Phương pháp này hướng đến hạn chế ảnh hưởng lên cơ và mô mềm xung quanh, giảm đau sau phẫu thuật và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phục hồi ở những người bệnh phù hợp. Việc lựa chọn kỹ thuật cần căn cứ vào tình trạng tổn thương, mức độ chèn ép thần kinh, độ vững cột sống và thể trạng của từng người bệnh.
Ở lĩnh vực tai mũi họng, BS.CKII Lê Thị Hồng Hải, Trưởng Liên chuyên khoa Tai Mũi Họng – Mắt – Răng Hàm Mặt, trình bày đề tài đánh giá kết quả phẫu thuật mở lỗ thông mũi xoang qua khe dưới cải tiến trong điều trị bệnh lý xoang hàm tái phát. Nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật hỗ trợ dẫn lưu xoang hàm, hướng đến kiểm soát tình trạng viêm và giảm nguy cơ tái phát ở những trường hợp được chỉ định phù hợp.

Trong khi đó, đề tài của BS.CKI Hàng Thế Cơ, Khoa Tiêu hóa, đánh giá kết quả phẫu thuật cắt gan tại bệnh viện. Đây là kỹ thuật đòi hỏi chuyên môn cao do cấu trúc mạch máu của gan phức tạp, yêu cầu kiểm soát chảy máu và phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa. Nghiên cứu hướng đến hệ thống hóa kinh nghiệm lâm sàng, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật và chuẩn hóa quy trình chăm sóc trước, trong và sau mổ.
Đối với bệnh lý thoái hóa khớp gối giai đoạn nặng, ThS.BS. Nguyễn Tấn Lãm, Khoa Chấn thương chỉnh hình, giới thiệu đề tài thay khớp gối toàn phần hai bên trong cùng một lần phẫu thuật ở người bệnh thoái hóa khớp gối độ IV, biến dạng nặng có khuyết xương mâm chày. Phương pháp đòi hỏi đánh giá kỹ tình trạng sức khỏe, nguy cơ phẫu thuật, đồng thời bảo đảm độ vững của khớp nhân tạo và xây dựng kế hoạch phục hồi chức năng phù hợp.
Ở lĩnh vực răng hàm mặt, BS.CKI Nguyễn Hồng Quân trình bày nghiên cứu trên chín bệnh nhân gãy phức hợp gò má được phẫu thuật. Đề tài phân tích đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính (CT) và kết quả điều trị. Việc kết hợp thăm khám với chẩn đoán hình ảnh giúp xác định vị trí, mức độ di lệch và phạm vi tổn thương, hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật nhằm phục hồi cấu trúc giải phẫu, chức năng và đường nét khuôn mặt.

Tập trung vào tiến bộ trong điều trị tim mạch
Tại phiên chuyên môn, các nghiên cứu tim mạch đề cập đến quy trình thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI) và những bước tiến trong điều trị rối loạn nhịp tim.
Với đề tài “TAVI: Quy trình chẩn đoán và điều trị”, BS.CKII Trần Nguyễn An Huy, Khoa Tim mạch, trình bày phương pháp đưa van nhân tạo đến vị trí van động mạch chủ bị hẹp thông qua hệ thống ống thông, thường tiếp cận qua động mạch đùi, không cần phẫu thuật mở tim theo cách truyền thống.
Quy trình TAVI đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chuyên khoa, từ đánh giá triệu chứng, siêu âm tim đến chụp CT để khảo sát cấu trúc van và đường tiếp cận mạch máu. Việc lựa chọn người bệnh dựa trên mức độ bệnh, nguy cơ phẫu thuật, đặc điểm giải phẫu tim mạch và đánh giá của nhóm chuyên gia.
Trong khi đó, TS.BS. Lê Thanh Liêm, Cố vấn chuyên môn Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn, cập nhật các tiến bộ trong điều trị rối loạn nhịp tim. Tùy loại rối loạn nhịp và tình trạng người bệnh, bác sĩ có thể lựa chọn điều trị bằng thuốc, triệt đốt qua catheter, máy tạo nhịp hoặc máy khử rung cấy được.
Các báo cáo nhấn mạnh vai trò của chẩn đoán chính xác, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và theo dõi lâu dài nhằm kiểm soát triệu chứng, cải thiện chất lượng sống và giảm nguy cơ biến chứng ở những bệnh nhân thích hợp.
Ứng dụng dữ liệu trong nâng cao chất lượng chăm sóc
Bên cạnh chuyên môn điều trị, hội nghị dành sự quan tâm đến vai trò của điều dưỡng trong hành trình chăm sóc người bệnh. Tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn, hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ có sự tham gia của bác sĩ mà còn lan tỏa đến điều dưỡng, kỹ thuật viên, nữ hộ sinh và các nhân sự y tế khác.
Một trong những nội dung đáng chú ý là mô hình Điều dưỡng trưởng thăm bệnh (Strategic Nursing Leader Rounding – SNLR), do ThSĐD. Đoàn Thị Kim Thoa, Giám đốc Điều dưỡng, trình bày. Mô hình kết hợp hoạt động thăm bệnh chủ động của quản lý điều dưỡng với công nghệ số nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và trải nghiệm người bệnh.
Sau giai đoạn thí điểm tại một khoa vào năm 2025, mô hình được nhân rộng đến tám khoa nội trú vào tháng 7/2026. Theo số liệu báo cáo tại hội nghị, chương trình ghi nhận 873 lượt thăm bệnh trên 596 người bệnh, phát hiện 359 vấn đề cần giải quyết, trong đó 98,3% được xử lý trong vòng 24 giờ.
Tỷ lệ người bệnh hiểu kế hoạch điều trị và chăm sóc tăng từ 77,4% lên 100%; số phản hồi chưa tích cực giảm hơn 40% qua các đợt đánh giá.
Thông qua nhật ký thăm bệnh điện tử và hệ thống Power BI, đội ngũ quản lý điều dưỡng có thể theo dõi các vấn đề phát sinh, phối hợp xử lý và đưa ra quyết định cải tiến dựa trên dữ liệu.

Một nghiên cứu khác của CNĐD. Hồ Bảo Trân, Khoa Nội tổng hợp, khảo sát tình trạng viêm tĩnh mạch tại vị trí đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên trên 218 người bệnh. Kết quả ghi nhận 40,4% trường hợp có điểm VIP từ 1 trở lên, chủ yếu là biểu hiện mức độ nhẹ; không ghi nhận trường hợp có điểm VIP từ 3 trở lên trong mẫu nghiên cứu. Dữ liệu này là cơ sở để tăng cường nhận diện sớm dấu hiệu bất thường, chuẩn hóa theo dõi đường truyền và cải tiến quy trình chăm sóc.

Đối với chăm sóc sau phẫu thuật, CNĐD. Phan Nguyễn Mai Ly, Khoa Gây mê Hồi sức, trình bày nghiên cứu ứng dụng chương trình tăng cường hồi phục sau phẫu thuật (ERAS) tại phòng hồi tỉnh.
Nghiên cứu thực hiện trên 100 người bệnh, gồm 50 người áp dụng ERAS và 50 người được chăm sóc thường quy. Theo kết quả được báo cáo, tỷ lệ đau sau phẫu thuật với điểm VAS trên 3 ở nhóm ERAS là 24%, so với 56% ở nhóm chăm sóc thường quy. Tỷ lệ buồn nôn và nôn lần lượt là 16% và 40%; tỷ lệ hạ thân nhiệt là 10% và 42%. Thời gian lưu tại phòng hồi tỉnh trung bình của hai nhóm tương ứng là 78,7 phút và 87 phút.
Các kết quả cho thấy vai trò của việc ứng dụng bằng chứng khoa học, chuẩn hóa quy trình và cải tiến thực hành điều dưỡng trong nâng cao chất lượng hồi phục sau phẫu thuật.
Hướng đến chăm sóc toàn diện, lấy người bệnh làm trung tâm
Theo định hướng được bệnh viện đưa ra tại hội nghị, chăm sóc toàn diện không dừng lại khi người bệnh hoàn thành phẫu thuật hay kết thúc điều trị nội trú, mà kéo dài từ tầm soát, chẩn đoán sớm, điều trị chuyên khoa đến phục hồi chức năng và theo dõi sau xuất viện.
Cách tiếp cận này đồng thời quan tâm đến sức khỏe thể chất, tinh thần, cảm xúc, sự lựa chọn và trải nghiệm của người bệnh. Môi trường làm việc, sức khỏe tinh thần, sự hài lòng và cơ hội phát triển nghề nghiệp của đội ngũ điều dưỡng cũng là những nội dung được đề cập trong các nghiên cứu tại hội nghị.
ThS.BS. Nguyễn Ngọc Bảo Long cho biết trong năm 2026, bệnh viện đạt Chứng nhận Bạch kim của Hội Đột quỵ thế giới (WSO) và giải thưởng Xuất sắc ở hạng mục Phát triển nhân tài tại Lễ trao giải Quản lý Bệnh viện châu Á. Đây là những kết quả được bệnh viện xem là động lực để tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn và phát triển đội ngũ.

Thông qua việc kết nối đào tạo, nghiên cứu và thực hành lâm sàng, Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn hướng đến đưa kết quả nghiên cứu và các dự án cải tiến chất lượng vào hoạt động khám, chữa bệnh. Mục tiêu là phát triển chuyên môn song hành với chăm sóc toàn diện, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm an toàn người bệnh.





